SỐNG TỬ TẾ ĐỂ LOAN BÁO TIN MỪNG

“Chính anh em là ánh sáng cho trần gian” (Mt 5,14).

 

MỤC LỤC

DẪN NHẬP.. 3

I. ĐỨC KITÔ – NGUỒN MẠCH VÀ MẪU GƯƠNG CỦA ĐỜI SỐNG TỬ TẾ.. 3

1. Đón nhận tình yêu Đức Kitô – nguồn mạch của đời sống tử tế. 3

2. Noi gương Đức Kitô – học cách yêu thương và phục vụ. 4

3. Lắng nghe Đức Kitô – để Lời Người định hướng đời sống. 4

4. Kết hợp với Đức Kitô trong các bí tích – đón nhận sức mạnh đổi mới 4

5. Gắn bó với Đức Kitô trong cầu nguyện – để Thánh Thần uốn nắn tâm hồn. 5

II. RÈN LUYỆN BẢN THÂN – SỐNG TỬ TẾ TRONG LỜI NÓI VÀ HÀNH ĐỘNG.. 5

1. Chân thật để trở thành người đáng tin. 5

2. Khiêm tốn để nhận biết giới hạn của mình. 5

3. Tự chủ để không gây tổn thương. 6

4. Thanh luyện động cơ khi làm điều tốt 6

5. Kiên trì để điều tốt trở thành nếp sống. 6

III. GIA ĐÌNH VÀ CỘNG ĐOÀN – SỐNG TỬ TẾ TRONG HIỆP THÔNG.. 7

1. Gia đình – nơi đầu tiên thực hành yêu thương. 7

2. Cộng đoàn – mái nhà biết đón tiếp. 7

3. Đối thoại – con đường giải quyết bất đồng. 7

4. Hòa giải – trách nhiệm gìn giữ tình huynh đệ. 8

5. Phân công và phối hợp để phục vụ cộng đoàn. 8

IV. NÂNG ĐỠ NGƯỜI ĐAU KHỔ – SỐNG TỬ TẾ BẰNG LÒNG THƯƠNG XÓT.. 8

1. Nhìn thấy những người đang bị bỏ quên. 9

2. Đến gần người đang chịu đau khổ. 9

3. Giúp đỡ theo nhu cầu thực tế. 9

4. Gìn giữ phẩm giá của người được giúp. 10

5. Phục vụ mọi người với tình yêu nhưng không. 10

V. CHU TOÀN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI – SỐNG TỬ TẾ GIỮA ĐỜI. 10

1. Tận tâm trong học tập và nghề nghiệp. 10

2. Công bằng trong những tương quan kinh tế. 11

3. Có trách nhiệm với môi trường và ích chung. 11

4. Văn minh và chân thật trong môi trường mạng. 12

5. Tôn trọng khác biệt và góp phần xây dựng hòa bình. 12

VI. CÙNG NHAU LOAN BÁO ĐỨC KITÔ – SỐNG TỬ TẾ ĐỂ LÀM CHỨNG.. 12

1. Nhận trách nhiệm truyền giáo từ Bí tích Rửa Tội 12

2. Kết hợp gương sống với lời giới thiệu Đức Kitô. 13

3. Mời gọi bằng sự hiền hòa và tôn trọng tự do. 13

4. Đồng hành với người tìm hiểu đạo và người mới tin. 14

5. Huy động mọi ơn gọi tham gia sứ mạng truyền giáo. 14

KẾT LUẬN.. 14

CHÚ THÍCH.. 15

 

DẪN NHẬP

“Chính anh em là ánh sáng cho trần gian” (Mt 5,14). Đó là lời Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ chiếu tỏa ánh sáng Tin Mừng ngay giữa đời thường. Ánh sáng ấy được toả lan qua những việc làm tử tế hằng ngày như sống chân thật, tôn trọng phẩm giá con người, biết yêu thương và tận tâm chu toàn trách nhiệm. Bởi lẽ, nhiều khi người ta gặp chúng ta trước khi đọc Kinh Thánh hay tìm hiểu giáo lý; chính cách chúng ta sống có thể mở đường cho họ nhận ra vẻ đẹp của đức tin và tìm đến với Đức Kitô.

Sứ mạng làm chứng ấy cũng được nhấn mạnh trong những định hướng của Giáo hội. Trong Thư chung năm 2025, Hội đồng Giám mục Việt Nam nhắc nhở những người đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội về trách nhiệm loan báo Tin Mừng, được nuôi dưỡng bằng sự kết hợp với Đức Kitô qua Lời Chúa và Thánh Thể, đồng thời được thể hiện trong đời sống cá nhân, gia đình và xã hội.[[1]] Trong Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền giáo năm 2026, với chủ đề “Nên một trong Đức Kitô, hiệp nhất trong sứ vụ”, Đức Giáo hoàng Lêô XIV mời gọi toàn thể Giáo hội củng cố sự hiệp thông và cùng nhau làm chứng cho tình yêu trung tín của Thiên Chúa được biểu lộ nơi Đức Giêsu Kitô.[[2]] Những lời mời gọi ấy hướng người tín hữu đến một đời sống gắn bó với Đức Kitô và trở nên chứng nhân tình yêu của Người giữa lòng thế giới.

Trong tinh thần ấy, hướng tới Khánh nhật Truyền giáo năm 2026, bài viết này cố gắng gợi mở một con đường chứng tá đơn sơ và gần gũi: kín múc tình yêu từ Đức Kitô để sống tử tế với tha nhân và loan báo Người bằng lời nói cũng như hành động. Con đường ấy được triển khai qua sáu hướng thực hành: gắn bó với Đức Kitô; rèn luyện bản thân; xây dựng sự hiệp thông trong gia đình và cộng đoàn; nâng đỡ người đau khổ; chu toàn trách nhiệm xã hội; và cùng nhau loan báo Đức Kitô. Từ những việc làm bình dị nhưng chân thành và bền bỉ, mỗi người trong ơn gọi và hoàn cảnh riêng, đều có thể góp phần làm cho ánh sáng Tin Mừng lan tỏa giữa lòng thế giới.

I. ĐỨC KITÔ – NGUỒN MẠCH VÀ MẪU GƯƠNG CỦA ĐỜI SỐNG TỬ TẾ

Đời sống tử tế của các Kitô hữu bắt nguồn từ tình yêu Đức Kitô và được nuôi dưỡng bằng sự kết hợp mật thiết với Người. Chính khi đón nhận tình yêu ấy và để Người biến đổi tâm hồn, chúng ta mới có thể yêu thương và phục vụ tha nhân cách chân thành, quảng đại và bền bỉ. Vì thế, muốn trở nên ánh sáng Tin Mừng giữa đời thường, trước hết người môn đệ cần gắn bó với Đức Kitô, nguồn mạch và mẫu gương của mọi hành động yêu thương.

1. Đón nhận tình yêu Đức Kitô – nguồn mạch của đời sống tử tế

Đời sống Kitô hữu khởi đi từ tình yêu Thiên Chúa được biểu lộ nơi Đức Giêsu Kitô. Thánh Gioan viết: “Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta được biểu lộ như thế này: Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống” (1 Ga 4,9). Trong Đức Kitô, chúng ta được yêu thương, tha thứ và mời gọi bước vào đời sống mới. Vì thế, sống tử tế không chỉ là nỗ lực làm điều tốt, mà còn là lời đáp trả tình yêu Thiên Chúa đã dành cho chúng ta. Như Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI nhấn mạnh, đời sống Kitô hữu bắt nguồn từ cuộc gặp gỡ với Đức Kitô, Đấng mở ra cho con người một chân trời mới và hướng đi quyết định.[[3]]

Đức Giêsu mời gọi các môn đệ: “Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy” (Ga 15,9), và truyền dạy: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12). Hai lời ấy cho thấy tình yêu đối với tha nhân phát sinh từ việc đón nhận và ở lại trong tình yêu của Người. Khi ý thức mình được Thiên Chúa yêu thương và xót thương, chúng ta biết nhìn bản thân với lòng biết ơn, nhìn người khác với sự cảm thông, bớt khắt khe trước những giới hạn của họ và sẵn lòng trao cho họ cơ hội bắt đầu lại.

Tình yêu ấy cũng là nguồn sức mạnh giúp chúng ta kiên trì làm điều thiện. Lòng tốt dễ suy giảm nếu chỉ dựa vào cảm xúc nhất thời hoặc mong chờ sự đáp lại của người khác. Trái lại, khi gắn bó với Đức Kitô, chúng ta được nâng đỡ để tiếp tục yêu thương ngay cả lúc gặp khó khăn, chịu thiệt thòi hoặc không được ghi nhận. Nhờ đó, đời sống tử tế không dừng lại ở những nghĩa cử nhất thời, nhưng dần trở thành một cách sống bền bỉ, bắt nguồn từ tình yêu đã lãnh nhận nơi Người.

2. Noi gương Đức Kitô – học cách yêu thương và phục vụ

Đức Giêsu thể hiện tình yêu qua những cuộc gặp gỡ cụ thể. Người dừng lại trước tiếng kêu của anh mù Batimê, đến nhà ông Dakêu và cúi xuống rửa chân cho các môn đệ (x. Mc 10,46-52; Lc 19,1-10; Ga 13,1-15). Người quan tâm đến hoàn cảnh và phẩm giá của từng người, đến gần họ bằng lòng thương xót và mở ra niềm hy vọng. Nơi Người, chúng ta học cách lắng nghe, cảm thông và khiêm tốn phục vụ.

Tình yêu của Đức Giêsu luôn gắn liền với sự thật. Người đón nhận người tội lỗi và mời gọi họ hoán cải; Người phục vụ mà không tìm lợi ích cho mình và yêu thương đến cùng qua việc hiến mạng sống trên thập giá. Vì thế, sống tử tế theo gương Người không chỉ là cư xử dịu dàng, mà còn là chân thành góp ý, giúp người khác hướng đến điều thiện, ngay cả khi phải chấp nhận hy sinh.

Trong những tương quan hằng ngày, chúng ta có thể tự hỏi: Tôi đã thực sự lắng nghe và tôn trọng người đối diện chưa? Khi góp ý hoặc sửa sai, tôi có giữ được lòng bác ái và sự tế nhị không? Chính qua những thái độ và việc làm cụ thể ấy, tình yêu Đức Kitô được thể hiện và trở thành chứng tá giữa đời thường.

3. Lắng nghe Đức Kitô – để Lời Người định hướng đời sống

Muốn sống theo gương Đức Kitô, chúng ta cần lắng nghe Lời Người. Giữa nhiều quan điểm và những đòi hỏi của cuộc sống, Lời Chúa soi sáng lương tâm, giúp chúng ta phân định điều đúng, nhận ra những gì cần thay đổi và lựa chọn cách hành động phù hợp với Tin Mừng. Đức Giêsu dạy: “Vậy ai nghe những lời Thầy nói đây mà đem ra thực hành, thì ví được như người khôn xây nhà trên đá” (Mt 7,24). Lời Chúa chỉ thực sự trở thành nền tảng vững chắc khi được đón nhận và thể hiện trong đời sống.

Vì thế, việc đọc và suy niệm Kinh Thánh cần dẫn đến những quyết định cụ thể. Trước mỗi hoàn cảnh, chúng ta có thể tự hỏi: Lời Chúa đang soi sáng điều gì và mời gọi tôi hành động ra sao? Khi để Lời Người hướng dẫn, chúng ta biết cân nhắc trước những lựa chọn, tránh hành động theo cảm tính và tìm kiếm điều thực sự tốt đẹp theo tinh thần Tin Mừng.

Lời Chúa còn giúp chúng ta nhận ra những động cơ và thái độ chưa phù hợp với đức tin. Đôi khi, sự bận rộn trở thành lý do để thờ ơ, hoặc ý muốn sửa lỗi người khác lại pha lẫn tự ái. Thành tâm đối chiếu đời sống với Lời Chúa, chúng ta được mời gọi điều chỉnh cách nghĩ và hành động, để sự tử tế không chỉ xuất phát từ thiện chí cá nhân mà còn được định hướng bởi chân lý và tình yêu của Đức Kitô.

4. Kết hợp với Đức Kitô trong các bí tích – đón nhận sức mạnh đổi mới

Qua các bí tích, Đức Kitô tiếp tục gặp gỡ, thánh hóa và thông ban ân sủng cho chúng ta. Nhờ Bí tích Rửa Tội, chúng ta được kết hợp với Người trong mầu nhiệm Vượt Qua, để bước vào đời sống mới (x. Rm 6,3-4). Ân sủng ấy mời gọi chúng ta sống xứng đáng với phẩm giá của người con Thiên Chúa và làm cho đức tin sinh hoa trái qua những việc lành hằng ngày.

Bí tích Thánh Thể nuôi dưỡng sự kết hợp mật thiết với Đức Kitô, Đấng đã hiến mình vì yêu thương nhân loại. Khi đón nhận Mình và Máu Thánh Người, chúng ta cũng được mời gọi sống tinh thần trao hiến và phục vụ tha nhân. Như Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI nhấn mạnh, sự kết hợp với Đức Kitô trong Thánh Thể cũng đưa chúng ta vào sự hiệp thông với những người khác.[[4]] Vì thế, tình yêu được cử hành nơi bàn tiệc Thánh Thể cần được thể hiện trong đời sống bác ái.

Qua Bí tích Hòa Giải, chúng ta được đón nhận lòng thương xót và ơn tha thứ của Thiên Chúa, đồng thời được mời gọi hoán cải và đổi mới đời sống. Ơn giao hòa ấy cần sinh hoa trái qua việc sửa chữa những sai lầm và khắc phục hậu quả do tội lỗi gây ra. Nhờ siêng năng lãnh nhận các bí tích với lòng tin và sự chuẩn bị xứng hợp, chúng ta được ân sủng Đức Kitô nâng đỡ để ngày càng sống chân thành, quảng đại và có trách nhiệm hơn với tha nhân.

5. Gắn bó với Đức Kitô trong cầu nguyện – để Thánh Thần uốn nắn tâm hồn

Đời sống Đức Giêsu cho thấy sự hiệp thông sâu xa với Chúa Cha qua cầu nguyện. Trước khi chọn các Tông đồ, Người đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa (x. Lc 6,12-13). Noi gương Người, chúng ta được mời gọi dành thời gian gặp gỡ Chúa, phó thác những bận tâm và tìm kiếm thánh ý Người trong mọi hoàn cảnh. Cầu nguyện không chỉ là trình bày những điều mình mong ước, mà còn là mở lòng để Thiên Chúa hướng dẫn và biến đổi.

Có những lúc chúng ta nhận ra điều tốt nhưng thiếu sức mạnh để thực hiện. Những mệt mỏi, thất vọng hoặc tổn thương có thể khiến tâm hồn trở nên khép kín. Trong cầu nguyện, chúng ta đem những yếu đuối ấy đến với Chúa và xin Chúa Thánh Thần đổi mới lòng mình. Thánh Phaolô nhắc đến hoa quả của Thần Khí là “bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ” (Gl 5,22-23). Đức Giáo hoàng Phanxicô cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sống trong sự hiện diện của Chúa Thánh Thần và đón nhận sức mạnh cùng sự hướng dẫn của Người.[[5]]

Cầu nguyện đích thực không tách chúng ta khỏi đời sống, nhưng giúp chúng ta trở về với những bổn phận hằng ngày bằng một tâm hồn được đổi mới. Khi biết dành thời gian thinh lặng trước Chúa, thành thật xét mình và quyết tâm sửa đổi, chúng ta dần trở nên nhạy bén hơn trước những nhu cầu của tha nhân và kiên trì hơn trong việc thực hành điều thiện. Nhờ đó, sự gắn bó với Đức Kitô trở thành sức mạnh nội tâm giúp chúng ta tiếp tục rèn luyện bản thân và sống tử tế trong từng lời nói, hành động.

II. RÈN LUYỆN BẢN THÂN – SỐNG TỬ TẾ TRONG LỜI NÓI VÀ HÀNH ĐỘNG

Sự kết hợp với Đức Kitô cần được thể hiện qua việc rèn luyện những phẩm chất cụ thể. Ân sủng nâng đỡ sự tự do và nỗ lực của con người; mỗi người vẫn cần tập luyện, sửa đổi và kiên trì. Năm phương diện sau giúp tình yêu đã lãnh nhận thấm vào lời nói, phản ứng và việc làm hằng ngày.

1. Chân thật để trở thành người đáng tin

Lòng tin được xây dựng khi lời nói và việc làm phù hợp với nhau. Người Kitô hữu được mời gọi nói sự thật, giữ lời hứa, không khẳng định những điều mình chưa biết rõ và tránh cách diễn đạt khiến người khác hiểu sai (x. Mt 5,37). Thánh Phaolô nhắc nhở: “Bởi thế, một khi đã cởi bỏ sự gian dối, mỗi người trong anh em hãy nói sự thật với người thân cận, vì chúng ta là phần thân thể của nhau” (Ep 4,25). Sống chân thật còn đòi hỏi sự tế nhị, để điều đúng được nói ra với lòng bác ái và nhằm mục đích xây dựng.

Sự chân thật được thể hiện qua những việc thường ngày: giữ một lời hứa, trung thực trong công việc, dám nhận trách nhiệm khi mắc sai lầm. Đôi khi, nói thật có thể khiến chúng ta chịu thiệt thòi hoặc mất đi một cơ hội, nhưng chính những lựa chọn ấy giúp gìn giữ lương tâm ngay thẳng. Khi trung thực cả trong những điều không ai kiểm tra, chúng ta dần trở thành người đáng tin. Sự nhất quán giữa lời nói và hành động cũng làm cho chứng tá đức tin của chúng ta thêm sức thuyết phục.

2. Khiêm tốn để nhận biết giới hạn của mình

Trong dụ ngôn người Pharisêu và người thu thuế, người Pharisêu tự hào về những việc đạo đức mình đã làm và coi thường người khác, còn người thu thuế nhìn nhận tội lỗi và cầu xin lòng thương xót của Thiên Chúa (x. Lc 18,9-14). Dụ ngôn nhắc chúng ta rằng việc thực hành đạo cần đi đôi với lòng khiêm tốn. Người khiêm tốn biết nhìn nhận những điều tốt nơi mình như hồng ân Chúa ban, đồng thời ý thức những giới hạn và thiếu sót của bản thân. Nhờ đó, chúng ta tránh được thái độ tự mãn, biết tôn trọng người khác và sẵn lòng học hỏi, sửa đổi.

Đức khiêm tốn đặc biệt cần thiết đối với những người có trách nhiệm hướng dẫn và lãnh đạo. Biết lắng nghe góp ý, thừa nhận một quyết định chưa phù hợp và điều chỉnh cách làm không phải là dấu hiệu yếu kém, nhưng là biểu hiện của sự trưởng thành. Người khiêm tốn vẫn kiên định với điều đúng, song không cho rằng mình luôn đúng hoặc đặt ý kiến cá nhân lên trên lợi ích chung. Khi biết đón nhận sự thật về bản thân, chúng ta có thêm cơ hội trưởng thành và chu toàn trách nhiệm tốt hơn.

3. Tự chủ để không gây tổn thương

Nhiều tổn thương bắt đầu từ những phản ứng thiếu suy nghĩ. Một lời nói trong lúc nóng giận có thể để lại hậu quả lâu dài, nhất là khi phát xuất từ người thân hoặc người có trách nhiệm. Thánh Giacôbê khuyên: “Mỗi người phải mau nghe, đừng vội nói, và khoan giận, vì khi nóng giận, con người không thực thi đường lối công chính của Thiên Chúa” (Gc 1,19-20). Lời nhắc nhở ấy mời gọi chúng ta biết làm chủ cảm xúc, để sự bực tức không dẫn đến những lời nói và hành động gây tổn thương.

Đức tự chủ cần được rèn luyện qua những lựa chọn hằng ngày: biết dừng lại trước khi phản ứng, tránh quyết định lúc nóng giận và chọn thời điểm thích hợp để trao đổi. Khi cần góp ý hoặc sửa sai, chúng ta nên tập trung vào điều cần thay đổi, thay vì dùng lời lẽ mỉa mai hay hạ thấp phẩm giá người khác. Tự chủ không có nghĩa là né tránh điều sai trái, nhưng giúp chúng ta lên tiếng cách kiên quyết mà vẫn giữ được sự bình tĩnh và tôn trọng. Nhờ đó, lời nói và hành động có thể góp phần xây dựng thay vì gây thêm tổn thương.

4. Thanh luyện động cơ khi làm điều tốt

Đức Giêsu cảnh báo: “Khi làm việc lành phúc đức, anh em phải coi chừng, chớ có phô trương cho thiên hạ thấy” (Mt 6,1). Lời Người nhắc chúng ta rằng không chỉ việc làm, mà cả động cơ thúc đẩy việc làm ấy cũng cần được xem xét. Đôi khi, chúng ta giúp đỡ người khác nhưng vẫn mong được biết ơn, khen ngợi hoặc có ảnh hưởng trên họ. Vì thế, sống tử tế đòi hỏi một tấm lòng chân thành, biết tìm kiếm điều tốt cho tha nhân hơn là lợi ích của bản thân.

Để thanh luyện động cơ, chúng ta có thể tự hỏi: Nếu không ai biết đến việc mình làm, tôi có còn sẵn lòng thực hiện không? Nếu không được đáp lại, tôi có tiếp tục tôn trọng người mình giúp đỡ không? Được ghi nhận công sức là điều chính đáng, nhưng sự tán thưởng không thể là mục đích của việc phục vụ. Người Kitô hữu được mời gọi làm điều thiện vì tình yêu Thiên Chúa, hướng đến lợi ích thực sự của tha nhân và vinh quang của Người.

Động cơ ấy còn được thử thách khi công việc không diễn ra như mong muốn, khi người khác được ghi nhận nhiều hơn hoặc khi chúng ta phải từ bỏ cách làm quen thuộc. Biết vui trước thành quả chung, dù không được chú ý hay đề cao, là dấu hiệu của một tinh thần phục vụ ngày càng trong sáng.

5. Kiên trì để điều tốt trở thành nếp sống

Một nghĩa cử tốt đẹp có thể phát xuất từ cảm xúc nhất thời, nhưng một nếp sống tử tế đòi hỏi sự trung thành. Đức Giêsu dạy: “Ai trung tín trong việc rất nhỏ, thì cũng trung tín trong việc lớn; ai bất lương trong việc rất nhỏ, thì cũng bất lương trong việc lớn” (Lc 16,10). Lời Người nhắc chúng ta rằng sự trưởng thành không chỉ thể hiện qua những việc lớn lao, mà còn qua cách chu toàn các bổn phận nhỏ bé mỗi ngày. Chính sự trung thành trong những điều bình thường làm nên một đời sống đáng tin cậy.

Kiên trì cũng có nghĩa là biết bắt đầu lại sau những lần thiếu sót. Thay vì chỉ đưa ra những quyết tâm lớn, chúng ta có thể chọn một thói quen cụ thể: đúng giờ, trả lại đồ đã mượn, hoàn tất việc được giao, dành thời gian xét mình. Người làm chứng cần sự bền bỉ ấy để lời tuyên xưng được nâng đỡ bởi một đời sống nhất quán. Đức Giáo hoàng Phanxicô nhắc nhở rằng các môn đệ được sai đi “không chỉ để làm chứng, nhưng trước hết cũng để là những chứng nhân của Đức Kitô”.[[6]]

Sự kiên trì cần được nâng đỡ bằng một nhịp sống phù hợp. Người thường xuyên quá sức dễ trở nên thiếu kiên nhẫn và khó giữ sự tận tâm. Vì thế, biết sắp xếp công việc, nghỉ ngơi và nhìn lại những cam kết cũng thuộc về trách nhiệm với đời sống của mình. Nhờ những việc nhỏ được giữ đều đặn, sự tử tế dần trở thành phẩm chất ổn định và có thể được nhận ra trong đời sống chung.

III. GIA ĐÌNH VÀ CỘNG ĐOÀN – SỐNG TỬ TẾ TRONG HIỆP THÔNG

Những phẩm chất tốt đẹp được rèn luyện nơi mỗi người cần được thể hiện trong đời sống chung. Gia đình và cộng đoàn là môi trường gần gũi, nơi chúng ta học cách yêu thương, đón nhận những khác biệt và cùng nhau xây dựng tình hiệp thông. Chính trong những tương quan hằng ngày, sự tử tế được thử thách và trở nên cụ thể qua cách chúng ta đối xử và cộng tác với nhau.

1. Gia đình – nơi đầu tiên thực hành yêu thương

Gia đình là nơi chúng ta gần gũi và hiểu rõ cả những điều tốt đẹp lẫn giới hạn của nhau. Tuy nhiên, chính sự thân thuộc đôi khi khiến chúng ta dễ thiếu kiên nhẫn hoặc tế nhị với người thân. Thánh Phaolô nhắn nhủ: “Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương. Vì thế, anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa và nhẫn nại” (Cl 3,12). Những lời ấy cần được thực hiện trước hết trong mái ấm gia đình, nơi tình yêu được thể hiện qua sự quan tâm, tôn trọng và chăm sóc nhau mỗi ngày.

Thư mục vụ năm 2026 của Hội đồng Giám mục Việt Nam mời gọi vợ chồng, cha mẹ và con cái “lắng nghe nhau, cùng nhau phân định thánh ý Thiên Chúa”.[[7]] Tinh thần ấy được thể hiện khi vợ chồng biết chia sẻ trách nhiệm và dành thời gian cho nhau; cha mẹ giáo dục con cái bằng gương sáng và sự tôn trọng; con cái sống hiếu thảo; mọi người ân cần chăm sóc người già và người đau yếu. Qua những cử chỉ bình dị ấy, gia đình trở thành nơi tình yêu được nuôi dưỡng và đức tin được truyền lại bằng chính đời sống, để mỗi mái ấm trở nên một chứng tá gần gũi của Tin Mừng.

2. Cộng đoàn – mái nhà biết đón tiếp

Giáo xứ cần là nơi mỗi người cảm thấy mình được đón nhận và trân trọng. Người mới đến có thể chưa quen với các sinh hoạt; người di dân có thể gặp khó khăn về thủ tục; người trở lại sau thời gian xa cách có thể mang tâm trạng e ngại. Một lời chào thân thiện, sự hướng dẫn tận tình và thái độ tôn trọng có thể giúp họ cảm nhận được sự gần gũi và sẵn lòng gắn bó với cộng đoàn.

Thánh Phaolô mời gọi: “Vậy, anh em hãy đón nhận nhau, như Đức Kitô đã đón nhận anh em, để làm rạng danh Thiên Chúa” (Rm 15,7). Lời ấy cần được thể hiện trong cách phục vụ tại văn phòng giáo xứ, lớp giáo lý và các sinh hoạt đoàn thể. Thông tin rõ ràng, sự chỉ dẫn kiên nhẫn và việc quan tâm đến những hoàn cảnh riêng giúp người đến với cộng đoàn không cảm thấy mình là người xa lạ hay đang gây phiền hà. Những quy định cần thiết vẫn phải được tôn trọng, nhưng cần được áp dụng với tinh thần phục vụ. Một cộng đoàn thực sự hiếu khách không chỉ có nhiều hoạt động, mà còn biết dành chỗ cho những người đang tìm đến và mong được tham gia.

3. Đối thoại – con đường giải quyết bất đồng

Trong đời sống gia đình và cộng đoàn, những khác biệt về suy nghĩ và cách làm đôi khi dẫn đến bất đồng. Đối thoại giúp chúng ta hiểu rõ sự việc, lắng nghe những quan điểm khác nhau và tìm hướng giải quyết phù hợp. Đức Giêsu hướng dẫn việc sửa lỗi bắt đầu bằng cuộc gặp gỡ riêng với người liên quan (x. Mt 18,15-17). Cách thức ấy nhắc chúng ta tôn trọng phẩm giá của nhau, tránh vội vàng phán xét hoặc biến bất đồng thành chuyện bàn tán.

Đối thoại chân thành đòi hỏi mỗi người biết phân biệt sự thật với suy đoán, sẵn lòng lắng nghe và xem xét lại ý kiến của mình. Người có trách nhiệm càng cần tạo cơ hội để những tiếng nói khác biệt được trình bày và tôn trọng. Hội đồng Giám mục Việt Nam khuyến khích linh mục và tu sĩ áp dụng phương pháp đối thoại trong Thánh Thần để đồng hành với giáo dân, “cùng nhau lắng nghe Lời Chúa”.[[8]] Trong tinh thần ấy, các bên cần cùng xác định vấn đề, kiểm chứng sự việc và tìm giải pháp hướng đến lợi ích chung. Khi được thực hiện với lòng chân thành và trách nhiệm, đối thoại có thể biến những bất đồng thành cơ hội để hiểu nhau hơn và củng cố tình hiệp thông.

4. Hòa giải – trách nhiệm gìn giữ tình huynh đệ

Khi những bất đồng đã gây ra tổn thương, việc hòa giải đòi hỏi những bước cụ thể để chữa lành và khôi phục tương quan. Người gây tổn thương cần thành thật nhận trách nhiệm, xin lỗi và sửa chữa những sai lầm; người bị tổn thương cần được lắng nghe, tôn trọng và nâng đỡ. Hòa giải đích thực không thể tách rời sự thật, công bằng và trách nhiệm của mỗi bên.

Tha thứ mở đường cho sự chữa lành, nhưng việc xây dựng lại lòng tin cần thời gian và những hành động đáng tin cậy. Đối với những hành vi nghiêm trọng, cộng đoàn phải ưu tiên bảo vệ người bị hại và thực hiện việc xử lý thích hợp, chứ không thể nhân danh hòa giải để bỏ qua sai phạm. Đức Giáo hoàng Lêô XIV lưu ý rằng những xung đột, chia rẽ, hiểu lầm và thiếu tín nhiệm trong cộng đoàn làm suy yếu chứng tá Kitô giáo.[[9]] Vì thế, gìn giữ tình hiệp thông đòi hỏi lòng can đảm đối diện với sự thật và quyết tâm khắc phục những điều gây tổn thương.

Hòa giải có thể bắt đầu từ một lời nhận lỗi chân thành, một cuộc gặp gỡ có người hỗ trợ hoặc việc thực hiện những cam kết sửa chữa. Tuy nhiên, không nên thúc ép người bị tổn thương phải lập tức tha thứ hoặc cư xử như chưa từng có chuyện gì xảy ra. Khi mỗi người được đối xử công bằng và cộng đoàn biết kiên nhẫn đồng hành, những bước đi chân thành ấy sẽ góp phần chữa lành các tương quan và vun đắp tình huynh đệ.

5. Phân công và phối hợp để phục vụ cộng đoàn

Thánh Phaolô ví cộng đoàn với một thân thể có nhiều chi thể (x. 1 Cr 12,12-27) và nhấn mạnh: “Nếu một bộ phận nào đau, thì mọi bộ phận cùng đau. Nếu một bộ phận nào được vẻ vang, thì mọi bộ phận cũng vui chung” (1 Cr 12,26). Hình ảnh ấy nhắc chúng ta rằng mỗi người có khả năng và trách nhiệm khác nhau, nhưng đều góp phần xây dựng cộng đoàn. Dù đảm nhận công việc nổi bật hay âm thầm, mọi sự đóng góp chân thành đều đáng được trân trọng.

Trong giáo xứ và các đoàn thể, sự cộng tác đòi hỏi phân công rõ ràng, trao đổi thông tin đầy đủ và tôn trọng trách nhiệm của nhau. Người phụ trách cần tránh thiên vị, biết lắng nghe và tạo cơ hội cho người khác phát huy khả năng. Người tham gia cần chu toàn phần việc được giao, sẵn lòng phối hợp và điều chỉnh khi cần thiết. Nhờ đó, những khả năng khác nhau được kết hợp để phục vụ lợi ích chung.

Tinh thần hiệp thông còn được thể hiện qua việc biết chia sẻ kinh nghiệm, trao lại trách nhiệm và dành chỗ cho người mới tham gia. Người phục vụ lâu năm cần sẵn lòng hướng dẫn thế hệ kế tiếp; người có sáng kiến cần biết trao đổi và đón nhận sự cộng tác. Khi không ai xem công việc chung là thành quả hoặc quyền lợi riêng của mình, cộng đoàn có thể duy trì các hoạt động cách bền vững và cùng nhau lớn lên trong tinh thần phục vụ.

IV. NÂNG ĐỠ NGƯỜI ĐAU KHỔ – SỐNG TỬ TẾ BẰNG LÒNG THƯƠNG XÓT

Tình yêu được nuôi dưỡng trong gia đình và cộng đoàn cần mở ra với những người đang đau khổ, kể cả những người ít quen biết hoặc không cùng niềm tin. Theo gương Đức Kitô, chúng ta học cách nhận ra nhu cầu, đến gần và phục vụ với lòng thương xót. Việc nâng đỡ phải thiết thực và luôn gìn giữ phẩm giá của người được giúp.

1. Nhìn thấy những người đang bị bỏ quên

Trong dụ ngôn người phú hộ và anh Ladarô, người phú hộ sống sung túc, còn anh Ladarô nghèo khó nằm ngay trước cổng nhà ông, mong được ăn những gì từ bàn ông rơi xuống (x. Lc 16,19-31). Tuy ở rất gần nhau, nỗi khổ của anh Ladarô vẫn không được đoái hoài. Dụ ngôn nhắc chúng ta rằng những người cần được giúp đỡ có thể ở ngay bên cạnh, nhưng sự bận rộn, thói quen hoặc thái độ thờ ơ khiến chúng ta không nhận ra họ.

Trong gia đình, giáo xứ và cộng đoàn, đó có thể là người già sống cô đơn, người khuyết tật gặp khó khăn khi tham gia sinh hoạt, gia đình đang khủng hoảng hoặc người nghèo ngại mở lời xin giúp đỡ. Có những người âm thầm chịu đựng bệnh tật hay lặng lẽ rút lui vì cảm thấy không được quan tâm. Sự im lặng hoặc vắng mặt của họ không có nghĩa là họ không cần được nâng đỡ. Vì thế, chúng ta cần tập nhìn xa hơn những sinh hoạt quen thuộc, chú ý đến những người ít được nhắc tới và tìm hiểu hoàn cảnh của họ với lòng cảm thông, thay vì vội vàng nhận xét.

2. Đến gần người đang chịu đau khổ

Trong dụ ngôn người Samari nhân hậu, người Samari đã đến gần và chăm sóc người bị nạn (x. Lc 10,25-37). Hành động ấy cho thấy lòng thương xót không dừng lại ở sự cảm thông, nhưng thúc đẩy chúng ta vượt qua khoảng cách để hiện diện bên người đang đau khổ. Đến gần là biết dành thời gian, quan tâm và sẵn lòng chia sẻ gánh nặng với tha nhân.

Đối với bệnh nhân, gia đình có tang hoặc người đang gặp khủng hoảng, sự hiện diện chân thành đôi khi quý hơn nhiều lời giải thích. Một cuộc thăm hỏi, sự lắng nghe kiên nhẫn hoặc lời cầu nguyện khi họ mong muốn có thể đem lại niềm an ủi. Chúng ta cần tránh vội vàng quy nỗi đau của họ cho những lỗi lầm cá nhân, đưa ra lời khuyên thiếu cân nhắc hoặc đòi hỏi họ phải sớm vượt qua khó khăn.

Đồng hành với người đau khổ còn đòi hỏi sự tế nhị và tôn trọng. Có người chưa sẵn sàng chia sẻ, có người cần thời gian để đón nhận sự giúp đỡ. Vì thế, chúng ta cần kiên nhẫn, giữ kín những điều được tâm sự và nhận biết giới hạn của mình. Sự quan tâm đều đặn, dù qua những cử chỉ nhỏ bé, giúp người đang đau khổ cảm nhận rằng họ không bị bỏ mặc, nhưng vẫn được yêu thương và nâng đỡ.

3. Giúp đỡ theo nhu cầu thực tế

Lòng thương xót cần được thể hiện bằng sự trợ giúp phù hợp với hoàn cảnh cụ thể. Trước khi giúp đỡ, chúng ta cần tìm hiểu người đang gặp khó khăn thực sự cần gì và khả năng của mình có thể đáp ứng đến đâu. Có người cần lương thực, có người cần việc làm, có người cần được hướng dẫn tiếp cận dịch vụ y tế hoặc sự hỗ trợ của người có chuyên môn. Khi hiểu đúng nhu cầu, chúng ta có thể tránh những cách giúp đỡ tuy xuất phát từ thiện ý nhưng chưa đem lại hiệu quả thiết thực.

Các hoạt động bác ái cần được chuẩn bị, phối hợp và theo dõi chu đáo. Người phục vụ không nên hứa những điều vượt quá khả năng hoặc tự ý giải quyết các vấn đề đòi hỏi chuyên môn. Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI nhấn mạnh sự cần thiết của năng lực phục vụ cùng với một trái tim được đào luyện.[[10]] Vì thế, lòng nhiệt thành cần đi đôi với sự hiểu biết và tinh thần trách nhiệm, để việc trợ giúp thực sự mang lại ích lợi cho người được nâng đỡ.

Chúng ta cũng cần phân biệt những nhu cầu cấp bách với các khó khăn kéo dài. Một phần quà có thể giúp một gia đình vượt qua thiếu thốn trước mắt, nhưng để cải thiện hoàn cảnh lâu dài, họ có thể cần thêm cơ hội việc làm, sự hướng dẫn và những hình thức hỗ trợ thích hợp. Khi biết sử dụng nguồn lực cách hợp lý và phối hợp với những người có khả năng, cộng đoàn có thể giúp đỡ hiệu quả hơn và duy trì các hoạt động bác ái cách bền vững.

4. Gìn giữ phẩm giá của người được giúp

Người được trợ giúp không chỉ có những nhu cầu cần được đáp ứng, mà còn có tiếng nói, quyền lựa chọn và những khả năng đáng được trân trọng. Vì thế, chúng ta cần tránh cách trao tặng khiến họ cảm thấy xấu hổ hoặc phải công khai hoàn cảnh riêng trước nhiều người. Việc sử dụng hình ảnh, tên tuổi hay câu chuyện của họ cần có sự đồng ý phù hợp, đặc biệt khi liên quan đến trẻ em và những người dễ bị tổn thương.

Tôn trọng phẩm giá còn có nghĩa là lắng nghe ý kiến và để người được giúp tham gia vào những quyết định liên quan đến mình. Họ cần được tự do trình bày nhu cầu, nêu ý kiến khác biệt và hiểu rõ những điều kiện của việc trợ giúp. Người có khả năng trao tặng không nên vì thế mà quyết định mọi việc thay cho người nhận. Những sự giúp đỡ cần được thực hiện kín đáo khi cần thiết, đồng thời bảo vệ thông tin riêng tư của họ.

Mục đích của việc bác ái không chỉ là giải quyết khó khăn trước mắt, mà còn giúp người được nâng đỡ có thêm điều kiện và sự tự tin để từng bước tự lập. Khi được tin tưởng và tạo cơ hội đóng góp theo khả năng, họ không chỉ là người đón nhận sự trợ giúp, mà còn có thể chủ động tham gia cải thiện hoàn cảnh của chính mình.

5. Phục vụ mọi người với tình yêu nhưng không

Người đang đau khổ cần được yêu thương và nâng đỡ, bất kể tôn giáo, nguồn gốc hay hoàn cảnh sống. Đức Giêsu mời gọi các môn đệ mở rộng tình yêu đến cả những người đối nghịch với mình: “Còn Thầy, Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em” (Mt 5,44). Lời dạy ấy nhắc chúng ta rằng lòng bác ái Kitô giáo không bị giới hạn bởi sự khác biệt hay những mối tương quan quen thuộc.

Tình yêu đích thực được trao ban cách nhưng không, không đòi hỏi người nhận phải đáp lại bằng những điều kiện tôn giáo. Người được giúp không phải tham gia sinh hoạt đạo hoặc gia nhập Giáo hội để được trợ giúp. Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI khẳng định rằng hoạt động bác ái không được sử dụng như phương tiện chiêu dụ; tình yêu phải được trao ban cách nhưng không.[[11]] Chính khi phục vụ theo tinh thần ấy, người Kitô hữu vừa sống trung thành với đức tin, vừa tôn trọng tự do của người mình giúp đỡ.

Tinh thần phục vụ nhưng không còn được thể hiện khi người nhận có suy nghĩ, lối sống hoặc lựa chọn khác với chúng ta. Chúng ta có thể chân thành chia sẻ điều mình tin là tốt, nhưng không vì thế mà gây áp lực hoặc đặt điều kiện cho sự giúp đỡ. Khi lòng bác ái không gắn với sự đổi chác hay mong chờ đáp trả, người được nâng đỡ có thể cảm nhận tình thương chân thành và sự tôn trọng dành cho mình.

V. CHU TOÀN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI – SỐNG TỬ TẾ GIỮA ĐỜI

Sống tử tế không chỉ thể hiện qua những việc bác ái, mà còn qua cách chúng ta chu toàn trách nhiệm hằng ngày trong xã hội. Học tập, lao động, hoạt động kinh tế, sử dụng truyền thông và chăm sóc môi trường đều là những lãnh vực người Kitô hữu được mời gọi sống đức tin. Khi thực hiện những bổn phận ấy với sự tận tâm, trung thực và công bằng, chúng ta góp phần xây dựng công ích và làm chứng cho Tin Mừng giữa lòng xã hội.

1. Tận tâm trong học tập và nghề nghiệp

Đối với nhiều giáo dân, trường học và nơi làm việc là những môi trường thường xuyên gặp gỡ người chưa biết Chúa. Tại đó, đời sống đức tin được thể hiện qua thái độ nghiêm túc, tinh thần trách nhiệm và sự tận tâm trong từng công việc. Thánh Phaolô khuyên nhủ: “Bất cứ làm việc gì, hãy làm tận tâm như thể làm cho Chúa, chứ không phải cho người đời” (Cl 3,23).

Trong học tập, sự tử tế đòi hỏi người học sinh cần có tính trung thực, tránh gian lận và chuyên cần trau dồi kiến thức. Trong nghề nghiệp, người công nhân, nông dân cần chu toàn nhiệm vụ, tôn trọng thời gian và quyền lợi của người khác. Đặc biệt, những người làm việc trong các lãnh vực y tế, giáo dục và dịch vụ cần ý thức rằng chất lượng công việc của mình ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của nhiều người.

Tận tâm còn có nghĩa là nhận biết giới hạn chuyên môn, cẩn trọng khi thực hiện nhiệm vụ và sẵn lòng sửa chữa sai sót. Thiện chí thôi chưa đủ nếu công việc được thực hiện thiếu trách nhiệm. Biết kiểm tra kết quả, hỏi lại khi chưa rõ và tiếp tục học hỏi là những cách thiết thực để tránh gây thiệt hại cho người khác. Khi làm việc với lương tâm ngay thẳng và tinh thần phục vụ, người Kitô hữu giúp những giá trị mình tuyên xưng trở nên đáng tin qua chính đời sống hằng ngày.

2. Công bằng trong những tương quan kinh tế

Khi dân chúng hỏi phải làm gì, Gioan Tẩy Giả khuyên họ chia sẻ với người thiếu thốn; với người thu thuế, ông yêu cầu không thu quá mức quy định; với binh lính, ông căn dặn không hà hiếp hay tống tiền người khác (x. Lc 3,10-14). Những lời khuyên ấy cho thấy sự hoán cải không chỉ thể hiện trong đời sống đạo đức, mà còn trong cách kiếm sống, sử dụng tiền bạc và đối xử công bằng với tha nhân.

Trong hoạt động kinh tế, người kinh doanh cần cung cấp thông tin trung thực về sản phẩm, giữ đúng cam kết và tôn trọng quyền lợi khách hàng. Người sử dụng lao động phải trả công xứng đáng và bảo đảm điều kiện làm việc phù hợp. Các khoản đóng góp trong giáo xứ và cộng đoàn cũng cần được quản lý minh bạch. Việc làm từ thiện không thể thay thế bổn phận công bằng: chúng ta vẫn phải trả nợ, trả lương đầy đủ và bồi thường những thiệt hại do mình gây ra.

Sự công bằng càng cần được quan tâm khi một bên ở vị thế yếu hơn và khó tự bảo vệ quyền lợi. Người có quyền quyết định cần tránh lợi dụng hoàn cảnh khó khăn của người khác để áp đặt những điều kiện bất lợi. Các thỏa thuận phải rõ ràng, những cam kết cần được thực hiện nghiêm túc và các khiếu nại phải được giải quyết có trách nhiệm. Khi lợi ích kinh tế đi đôi với sự tôn trọng quyền lợi và phẩm giá con người, chúng ta góp phần xây dựng những tương quan xã hội công bằng và đáng tin cậy.

3. Có trách nhiệm với môi trường và ích chung

Thiên Chúa trao cho con người trách nhiệm chăm sóc và gìn giữ công trình tạo dựng. Sách Sáng thế thuật lại rằng Người đặt con người vào vườn Êđen “để cày cấy và canh giữ đất đai” (St 2,15). Lời Kinh Thánh ấy nhắc chúng ta rằng việc bảo vệ môi trường không chỉ là trách nhiệm xã hội, mà còn là cách đáp lại sự tín nhiệm của Đấng Tạo Hóa. Cách chúng ta sử dụng tài nguyên và giữ gìn môi trường sống ảnh hưởng đến sức khỏe, đời sống của cộng đồng, nhất là những người dễ chịu thiệt thòi vì ô nhiễm.

Trong gia đình, giáo xứ và nơi làm việc, mỗi người có thể góp phần bằng những việc đơn giản như tiết kiệm điện nước, hạn chế lãng phí, phân loại và bỏ rác đúng nơi quy định, giữ gìn vệ sinh chung. Quan tâm đến ích chung còn được thể hiện qua việc bảo quản tài sản tập thể, giữ gìn trật tự và chú ý đến sự an toàn của mọi người.

Sống có trách nhiệm cũng đòi hỏi chúng ta nghĩ đến những hậu quả mà hành động của mình có thể gây ra cho người khác. Sau mỗi buổi sinh hoạt, cần cùng nhau thu dọn; khi sử dụng đồ chung, cần giữ gìn và hoàn trả đúng chỗ. Đừng vì sự thuận tiện của bản thân mà để người khác phải gánh chịu những bất tiện hoặc thiệt hại. Qua những việc bình dị ấy, người Kitô hữu bày tỏ lòng biết ơn Thiên Chúa và tình yêu thương đối với tha nhân.

4. Văn minh và chân thật trong môi trường mạng

Môi trường mạng giúp chúng ta chia sẻ kiến thức, lan tỏa điều tốt đẹp và kết nối với nhiều người. Tuy nhiên, những thông tin sai lệch hoặc thiếu cân nhắc cũng có thể gây hiểu lầm, làm tổn thương danh dự và tạo nên chia rẽ. Vì thế, trước khi đăng tải hoặc chia sẻ, chúng ta cần kiểm chứng nguồn tin, tìm hiểu đầy đủ nội dung và thận trọng với những điều mình chưa biết rõ. Trong các cuộc trao đổi, việc tôn trọng sự thật, danh dự và đời tư của người khác cũng là một biểu hiện của đời sống tử tế.

Hội đồng Giám mục Việt Nam mời gọi: “Hãy sử dụng các phương tiện truyền thông với tư cách môn đệ thừa sai.”[[12]] Lời mời gọi ấy cần được thể hiện qua từng bài viết, hình ảnh và lời bình luận. Khi chia sẻ thông tin sai, chúng ta cần thành thật đính chính; khi bất đồng, cần trình bày quan điểm có lý lẽ và tránh những lời xúc phạm. Không thể nhân danh việc bảo vệ đức tin để gieo thù hận hoặc hạ thấp phẩm giá của người khác.

Mỗi người cũng cần thường xuyên xét lại cách mình sử dụng mạng xã hội: điều tôi chia sẻ có đáng tin cậy không? Lời tôi viết có công bằng và mang lại ích lợi cho người đọc không? Khi chưa đủ cơ sở xác nhận một thông tin, biết dừng lại thay vì vội vàng chia sẻ chính là một cách thực hành sự thận trọng và trách nhiệm.

5. Tôn trọng khác biệt và góp phần xây dựng hòa bình

Trong đời sống xã hội, chúng ta thường xuyên gặp gỡ những người khác mình về niềm tin, kinh nghiệm và cách nhìn nhận cuộc sống. Tôn trọng khác biệt không có nghĩa là từ bỏ xác tín của bản thân, nhưng là biết lắng nghe, tìm hiểu trước khi đánh giá và trình bày quan điểm với thái độ kính trọng. Nhờ đó, chúng ta có thể nhận ra thiện chí của nhau và cùng cộng tác trong những việc phục vụ công ích.

Đức Giêsu dạy: “Phúc thay ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa” (Mt 5,9). Thánh Phaolô cũng khuyên: “Hãy làm tất cả những gì anh em có thể làm được, để sống hoà thuận với mọi người” (Rm 12,18). Những lời ấy mời gọi chúng ta tránh nuôi dưỡng định kiến, không kích động chia rẽ và tìm cách giải quyết bất đồng trong tinh thần tôn trọng, công bằng. Hội đồng Giám mục Việt Nam cũng mời gọi các gia đình sống thân thiện và bác ái với anh chị em thuộc các tín ngưỡng, tôn giáo khác.[[13]]

Việc xây dựng hòa bình bắt đầu từ những tương quan gần gũi, qua lời nói ôn hòa, thái độ sẵn lòng lắng nghe và những công việc cùng thực hiện vì lợi ích chung. Đồng thời, chúng ta được mời gọi cầu nguyện cho hòa bình thế giới và quan tâm nâng đỡ những người đang chịu đau khổ vì chiến tranh. Khi kiên trì vun đắp lòng tin và tình liên đới, người Kitô hữu góp phần làm cho tình yêu Đức Kitô hiện diện giữa lòng xã hội.

VI. CÙNG NHAU LOAN BÁO ĐỨC KITÔ – SỐNG TỬ TẾ ĐỂ LÀM CHỨNG

Những cách sống tử tế đã trình bày trên đây giúp tình yêu Đức Kitô được thể hiện trong các tương quan hằng ngày. Tuy nhiên, để chu toàn sứ mạng loan báo Tin Mừng, người Kitô hữu còn được mời gọi sẵn sàng giới thiệu chính Đức Kitô, chia sẻ niềm tin cách hiền hòa và đồng hành với những người muốn tìm hiểu đạo. Sứ mạng ấy được thực hiện trong sự hiệp thông với Giáo hội và qua sự cộng tác của mọi thành phần Dân Chúa.

1. Nhận trách nhiệm truyền giáo từ Bí tích Rửa Tội

Nhờ Bí tích Rửa Tội, chúng ta được bước vào đời sống mới trong Đức Kitô, trở thành thành viên của Giáo hội và tham dự vào sứ mạng loan báo Tin Mừng. Vì thế, mọi người đã lãnh nhận Bí tích này đều được mời gọi làm chứng cho Chúa theo ơn gọi, bậc sống và hoàn cảnh của mình. Trong Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền giáo năm 2019, Đức Giáo hoàng Phanxicô khẳng định: “Mỗi người chúng ta là một sứ mạng cho thế giới, vì mỗi chúng ta là kết quả tình yêu của Thiên Chúa.”[[14]]

Sứ mạng truyền giáo được thực hiện ngay trong đời sống thường ngày: nơi gia đình, trường học, chỗ làm việc và cả khi đau yếu. Qua lời nói chân thành, việc làm tốt lành, lời cầu nguyện và những hy sinh âm thầm, mỗi người đều có thể góp phần giúp tha nhân nhận biết tình yêu Thiên Chúa. Cộng đoàn cũng cần khích lệ, nâng đỡ và tạo điều kiện để mọi thành viên nhận ra khả năng đóng góp của mình.

Ý thức mình được sai đi giúp người tín hữu sống trách nhiệm hơn với những điều mình nói và làm, bởi cách sống của mỗi người có thể ảnh hưởng đến cách người khác nhìn nhận đức tin và Giáo hội. Không phải ai cũng có thể đảm nhận những công việc truyền giáo nổi bật, nhưng mỗi người đều có thể trung thành với những bổn phận trong hoàn cảnh của mình. Chính qua sự trung thành ấy, Tin Mừng được làm chứng bằng những việc bình dị hằng ngày.

2. Kết hợp gương sống với lời giới thiệu Đức Kitô

Đời sống tốt lành có thể khơi dậy nơi người khác sự quan tâm đến đức tin. Gương sống giúp lời loan báo trở nên đáng tin cậy, còn lời loan báo giúp người nghe nhận biết Đức Kitô là nguồn mạch của tình yêu thúc đẩy chúng ta. Thánh Giáo hoàng Phaolô VI xem chứng tá đời sống là bước khởi đầu của việc loan báo Tin Mừng, đồng thời nhấn mạnh rằng việc loan báo đích thực phải giới thiệu danh xưng, giáo huấn, đời sống, những lời hứa, Nước Thiên Chúa và mầu nhiệm của Đức Giêsu Nadarét, Con Thiên Chúa.[[15]] Vì thế, người tín hữu cần sống phù hợp với điều mình tuyên xưng và sẵn sàng nói về Chúa khi có cơ hội thích hợp.

Việc giới thiệu Đức Kitô có thể bắt đầu từ những chia sẻ chân thành về kinh nghiệm đức tin, chẳng hạn cách lời cầu nguyện nâng đỡ chúng ta, hoặc cách giáo huấn của Chúa giúp chúng ta biết tha thứ và vượt qua thử thách. Khi trò chuyện, cần lắng nghe những câu hỏi của người đối thoại, trình bày điều mình tin bằng ngôn ngữ dễ hiểu và khiêm tốn nhìn nhận những điều mình chưa biết rõ. Nếu cần, chúng ta có thể cùng họ tìm hiểu thêm hoặc nhờ người có trách nhiệm hướng dẫn. Nhờ sự kết hợp giữa gương sống và lời chia sẻ, người nghe có cơ hội hiểu rõ hơn về Đức Kitô và tình yêu của Người.

3. Mời gọi bằng sự hiền hòa và tôn trọng tự do

Thánh Phêrô khuyên các tín hữu: “Hãy luôn luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em. Nhưng phải trả lời cách hiền hoà và với sự kính trọng” (1 Pr 3,15-16). Lời ấy nhắc chúng ta rằng việc chia sẻ đức tin không chỉ cần sự xác tín, mà còn đòi hỏi thái độ hiền hòa và tôn trọng người đối thoại. Khi giới thiệu Đức Kitô, chúng ta cần trình bày rõ ràng, lắng nghe những băn khoăn và dành cho người nghe thời gian suy nghĩ, tìm hiểu.

Chúng ta có thể mời người khác đọc Kinh Thánh, gặp người hướng dẫn hoặc tham gia một sinh hoạt phù hợp. Tuy nhiên, lời mời phải được đưa ra trong tinh thần tự do. Trong Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền giáo năm 2024, Đức Giáo hoàng Phanxicô nhấn mạnh: “Không phải bằng gây áp lực, cưỡng ép hay chiêu dụ, nhưng bằng sự thân thiện, cảm thương và dịu dàng, và bằng cách này phản ánh cách hiện hữu và hành động của chính Thiên Chúa.”[[16]] Vì thế, người được mời cần hiểu rõ nội dung lời mời và được tự do quyết định.

Tôn trọng tự do còn có nghĩa là không lợi dụng hoàn cảnh khó khăn hoặc sự lệ thuộc của người khác để thúc ép họ đón nhận đức tin. Khi họ chưa sẵn sàng hoặc không muốn tiếp tục tìm hiểu, chúng ta cần tôn trọng lựa chọn ấy, đồng thời vẫn giữ tình thân và sự quan tâm chân thành. Bởi lẽ, tình yêu Kitô giáo không tùy thuộc vào việc người khác có đáp lại lời mời của chúng ta hay không.

4. Đồng hành với người tìm hiểu đạo và người mới tin

Sau lời mời gọi ban đầu, người tìm hiểu đạo cần được hướng dẫn, giải đáp những thắc mắc và nâng đỡ trong hành trình đức tin. Người dự tòng có thể gặp khó khăn từ hoàn cảnh gia đình; người tân tòng có thể chưa quen với đời sống cầu nguyện và sinh hoạt Giáo hội; người trở lại sau thời gian xa cách có thể mang những băn khoăn hoặc tổn thương chưa được tháo gỡ. Mỗi hoàn cảnh đòi hỏi sự quan tâm và đồng hành phù hợp.

Giáo xứ và cộng đoàn cần có những người đồng hành đáng tin cậy, đồng thời tạo cơ hội để người mới tìm hiểu hoặc mới gia nhập Giáo hội từng bước tham gia đời sống chung. Đức Giáo hoàng Phanxicô lưu ý rằng sứ mạng truyền giáo còn bao gồm việc xây dựng cộng đoàn và đồng hành với những người đã lãnh nhận Bí tích Rửa Tội trên con đường Tin Mừng.[[17]] Những tương quan gần gũi và bền vững giúp họ có thêm điều kiện trưởng thành trong đức tin và cảm nhận mình thực sự thuộc về cộng đoàn.

Việc đồng hành không chỉ dừng ở truyền đạt kiến thức giáo lý, mà còn giúp người mới tin biết sống đức tin giữa những hoàn cảnh cụ thể. Khi gặp sự phản đối của gia đình hoặc những thử thách trong cuộc sống, họ cần được lắng nghe và hướng dẫn. Sự quan tâm của người đỡ đầu, những cuộc gặp gỡ sau khi lãnh nhận các bí tích và sự nâng đỡ của cộng đoàn giúp đức tin dần bén rễ. Khi trưởng thành, chính họ cũng có thể trở thành người đồng hành và nâng đỡ những người khác.

5. Huy động mọi ơn gọi tham gia sứ mạng truyền giáo

Sứ mạng loan báo Tin Mừng cần sự cộng tác của mọi thành phần Dân Chúa, mỗi người theo ơn gọi và khả năng của mình. Các giám mục và linh mục hướng dẫn, quy tụ và đồng hành với cộng đoàn; các phó tế phục vụ theo thừa tác vụ; tu sĩ đóng góp bằng đời sống thánh hiến và đặc sủng; chủng sinh chuẩn bị qua việc đào luyện; giáo dân làm chứng cho Chúa trong những môi trường xã hội khác nhau. Thiếu nhi, người cao tuổi và bệnh nhân cũng có thể góp phần bằng lời cầu nguyện, sự hy sinh và gương sống đức tin.

Để sự cộng tác ấy mang lại hoa trái, mỗi cộng đoàn cần nhận ra những nhu cầu truyền giáo cụ thể, xác định những việc có thể cùng thực hiện và khích lệ các thành viên tham gia. Những nỗ lực tại địa phương cũng cần được liên kết với sứ mạng loan báo Tin Mừng cho muôn dân. Đức Giáo hoàng Lêô XIV mời gọi mọi người, tùy theo ơn gọi và những ân huệ đã lãnh nhận, đóng góp vào sứ mạng loan báo Tin Mừng, vốn là công trình của tình yêu.[[18]] Qua chứng tá đời sống, lời cầu nguyện và sự hỗ trợ thiết thực, những đóng góp khác nhau được nối kết trong một sứ mạng chung.

Không phải ai cũng có điều kiện trực tiếp đến những vùng truyền giáo, nhưng mỗi người đều có thể tham gia theo hoàn cảnh của mình. Một gia đình nâng đỡ người dự tòng, một người trẻ chia sẻ đức tin, hay một cộng đoàn hỗ trợ các nhà truyền giáo đều đang góp phần vào công cuộc loan báo Tin Mừng. Điều quan trọng là nuôi dưỡng nơi mọi thành viên lòng thao thức cho những người chưa nhận biết Đức Kitô, để sứ mạng truyền giáo trở thành mối quan tâm và trách nhiệm thường xuyên của toàn thể cộng đoàn.

KẾT LUẬN

Sống tử tế để loan báo Tin Mừng bắt đầu từ sự gắn bó với Đức Kitô, Đấng yêu thương, cứu độ và đổi mới chúng ta. Khi đón nhận tình yêu của Người, chúng ta được thúc đẩy sống chân thật, xây dựng hiệp thông, phục vụ người đau khổ và chu toàn trách nhiệm giữa đời. Qua những việc làm ấy, người Kitô hữu đáp lại lời Đức Giêsu mời gọi trở nên ánh sáng cho trần gian, để người khác nhận ra tình yêu Thiên Chúa trong cuộc sống hằng ngày. Khi chứng tá đời sống đi đôi với lời giới thiệu Đức Kitô, Tin Mừng có thêm cơ hội được nhận biết và đón nhận.

Sứ mạng ấy thuộc về mọi thành phần Dân Chúa. Dù là giám mục, linh mục, phó tế, tu sĩ, chủng sinh hay giáo dân, mỗi người đều có thể góp phần theo ơn gọi, bậc sống và hoàn cảnh của mình. Ngay cả khi tuổi cao, đau yếu hoặc không thể tham gia những công việc trực tiếp, chúng ta vẫn có thể cộng tác bằng lời cầu nguyện, sự hy sinh và chứng tá đức tin.

Để lời mời gọi không chỉ dừng lại ở những suy nghĩ tốt đẹp, mỗi người cần bắt đầu bằng một quyết tâm vừa sức và kiên trì thực hiện. Đó có thể là sửa đổi một thói quen chưa tốt, quan tâm hơn đến người thân hoặc nâng đỡ một người đang gặp khó khăn. Gia đình và cộng đoàn cũng có thể cùng chọn những việc cụ thể để thực hành tình yêu thương. Những quyết tâm ấy cần được nuôi dưỡng bằng cầu nguyện và thường xuyên nhìn lại, để trở thành nếp sống bền vững.

Chúng ta cùng cầu xin Đức Kitô tiếp tục đổi mới tâm hồn, giúp mỗi người biết yêu thương, kính trọng tha nhân và trung thành với sứ mạng đã lãnh nhận. Nhờ lời chuyển cầu của Đức Maria, ước mong mọi thành phần trong Giáo hội Việt Nam luôn gắn bó với Lời Chúa, sống hiệp thông, quảng đại phục vụ và sẵn sàng giới thiệu Đức Kitô bằng lời nói cũng như đời sống. Từ những việc tử tế trong hoàn cảnh hằng ngày, xin cho chúng ta trở nên những chứng nhân của Tin Mừng, để ngày càng có nhiều người nhận biết và yêu mến Chúa.

Lm. Anthony Trung Thành

 

CHÚ THÍCH



[[1]] X. Đức Giáo hoàng Lêô XIV, Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền giáo 2026: “Nên một trong Đức Kitô, hiệp nhất trong sứ vụ” (25/01/2026), số 3; bản dịch: Lm. Đaminh Ngô Quang Tuyên, Ủy ban Loan báo Tin Mừng, HĐGMVN.

[[2]] X. Hội đồng Giám mục Việt Nam, Thư chung năm 2025 về sứ mạng loan báo Tin Mừng (10/10/2025), số 2–4.

[[3]] X. Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI, Thông điệp Deus caritas est (Thiên Chúa là Tình yêu, 25/12/2005), số 1.

[[4]] X. Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI, Deus caritas est, số 14.

[[5]] Đức Giáo hoàng Phanxicô, Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền giáo 2022: “Anh em sẽ là chứng nhân của Thầy” (06/01/2022), số 3; bản dịch: Văn phòng các Hội Giáo hoàng Truyền giáo tại Việt Nam và Ủy ban Loan báo Tin Mừng, HĐGMVN.

[[6]] Đức Giáo hoàng Phanxicô, Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền giáo 2022, số 1.

[[7]] Hội đồng Giám mục Việt Nam, Thư mục vụ năm 2026: “Mỗi gia đình Công giáo là một cộng đoàn thừa sai” (24/09/2026), số 3.

[[8]] Hội đồng Giám mục Việt Nam, Thư chung năm 2025 về sứ mạng loan báo Tin Mừng, số 6.

[[9]] X. Đức Giáo hoàng Lêô XIV, Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền giáo 2026, số 1.

[[10]] X. Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI, Deus caritas est, số 31a.

[[11]] X. Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI, Deus caritas est, số 31c.

[[12]] Hội đồng Giám mục Việt Nam, Thư chung năm 2025 về sứ mạng loan báo Tin Mừng, số 5.

[[13]] X. Hội đồng Giám mục Việt Nam, Thư mục vụ năm 2025: “Cùng nhau loan báo Tin Mừng” (20/09/2024), mục 2.

[[14]] Đức Giáo hoàng Phanxicô, Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền giáo 2019: “Được rửa tội và được sai đi: Hội Thánh Chúa Kitô thi hành sứ mạng trong thế giới” (09/06/2019), đoạn “Sứ mạng truyền giáo này chạm tới bản thân chúng ta”.

[[15]] X. Đức Giáo hoàng Phaolô VI, Tông huấn Evangelii nuntiandi (Loan báo Tin Mừng, 08/12/1975), số 21–22.

[[16]] Đức Giáo hoàng Phanxicô, Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền giáo 2024: “Hãy đi và mời mọi người đến dự tiệc” (25/01/2024), số 1; bản dịch: Lm. Đaminh Ngô Quang Tuyên, Ủy ban Loan báo Tin Mừng, HĐGMVN.

[[17]] X. Đức Giáo hoàng Phanxicô, Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền giáo 2025: “Những người truyền giáo của niềm hy vọng giữa muôn dân” (25/01/2025), số 3.

[[18]] X. Đức Giáo hoàng Lêô XIV, Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền giáo 2026, số 3.

Không có nhận xét nào

Được tạo bởi Blogger.